Lượt truy cập
3057318

Bác sĩ Việt Nam đầu tiên đạt giải implant quốc tế

      Tiến sĩ, Bác sĩ. Võ Văn Nhân - người Việt Nam đầu tiên thực hiện thành công kỹ thuật dời thần kinh ổ răng dưới & cấy ghép implant nha khoa và đã đạt giải nhất tại Hội Nghị Implant Nha Khoa năm 2013. Tiến sĩ, Bác sĩ. Võ Văn Nhân cũng là người Việt Nam đầu tiên đạt giải thưởng Implant Quốc Tế do Hiệp hội Implant Quốc Tế ICOI (International Congress of Oral Implantologists) trao tặng vào năm 2012.

1. Năm 2013

       Hội nghị Cấy Ghép Nha Khoa lần thứ II của Hội Cấy Ghép Nha Khoa Tp.HCM (HSDI) được tổ chức vào ngày 8-10 tháng 11 năm 2013 tại với chủ đề: Implant Nha Khoa - Xu hướng hiện hành và thách thức. Tại Hội nghị Tiến sĩ, Bác sĩ Võ Văn Nhân đã xuất sắc vượt qua các thí sinh khác và đạt giải nhất tại hội thi với đề tài:
 
"Phẫu thuật dời thần kinh ổ răng dưới và cấy ghép implant nha khoa"
 

      Tại Việt Nam, Tiến sĩ, Bác sĩ. Võ Văn Nhân được xem là người đầu tiên thực hiện được kỹ thuật này và thành công. Hiện tại, trên thế giới chỉ có khoảng 41 bác sĩ thực hiện kỹ thuật này.  Đến nay, bệnh nhân được phẫu thuật theo phương pháp này đã hoàn toàn bình phục và ăn nhai tốt.


2. Năm 2012

Vào ngày 22 - 24 tháng 6 năm 2012 hội nghị Châu Á Thái Bình Dương lần thứ 15 ICOI đã được tổ chức tại Việt Nam với sự tham gia thi tài poster của đại diện 24 thí sinh đến từ các nước trong khu vực Châu Á Thái Bình Dương (Nhật Bản, Hàn Quốc...).
Trong hội nghị này Tiến sĩ, Bác sĩ. Võ Văn Nhân đã vượt qua các thí sinh đến từ các quốc gia khác nhau trong khu vực để đạt giải nhì tại hội thi với đề tài: 
"Autogenous Vertical and Horizontal onlay block bone graft for maxillary alveolar ridge defect"
Đây là công trình nghiên cứu dựa trên sự theo dõi 49 bệnh nhân ghép xương khối (xương chậu, xương cằm, xương hậu hàm) nhằm đánh giá tỷ lệ thành công của việc ghép xương tự thân trong cấy ghép Implant nha khoa
 






 

3. Năm 2011

Poster đoạt giải nhì tại Hội Nghị Cấy Ghép Nha Khoa Lần I với đề tài:
"Lấy xương mào chậu, Nâng xoang ghép xương và phục hình bắt vít trên Implant" 
- Địa điểm: Thành phố Hồ Chí Minh
- Thời gian: Ngày 25 - 26 tháng 6 năm 2011



 
                                                      
Tóm tắt nội dung đề tài:
Ghép xương khối tự thân theo chiều dọc và chiều ngang trong trường hợp phức tạp vì xương hàm bị tiêu trầm trọng do mất răng lâu ngày.

Cấy implant ở xương hàm trên cực kỳ quan trọng vì liên quan nhiều đến vấn đề thẩm mỹ so với xương hàm dưới. Nhưng thật không may mắn, khi mất răng thì xương hàm trên bị tiêu nhanh và trầm trọng hơn so với xương hàm dưới nên dẫn đến hậu quả là tiêu xương cả theo chiều ngang và chiều dọc, không còn đủ xương để cấy Implant. Đây thật sự là một thách thức rất lớn cho những Bác sĩ điều trị implant trên toàn thế giới.

Trong trường hợp này có nhiều phương pháp ghép xương được áp dụng nhưng kĩ thuật  ghép xương khối tự thân của bệnh nhân là hiệu quả nhất vì xương tự thân có nhiều tế bào sinh xương, nhiều yếu tố tăng trưởng giúp xương thành công nhanh chóng và không có phản ứng thải ghép hay nguy cơ lây nhiễm chéo.

Kỹ thuật ghép xương khối theo chiều dọc và chiều ngang là kỹ thuật phức tạp nhất trong các kỹ thuật ghép xương để cấy Implant. Đòi hỏi người bác sĩ phải có đầy đủ kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm mới có thể thực hiện thành công kỹ thuật này.

Trong công trình nghiên cứu hồi cứu này, Tiến sĩ, Bác sĩ Võ Văn Nhân tổng kết 49 bệnh nhân: 28 nam và 21 nữ tuổi từ 18 đến 65 tuổi. Tất cả bệnh nhân này được điều trị ghép xương khối theo chiều dọc và chiều ngang tại Nha Khoa Nhân Tâm.

Trong đó có:

- 22 bệnh nhân ghép xương khối được lấy xương từ vùng cằm.
- 15 bệnh nhân ghép xương khối được lấy xương từ vùng hậu hàm.
- 12 bệnh nhân ghép xương khối được lấy xương từ hông (xương mào chậu)

Sau khi ghép xương 6 tháng, bệnh nhân được cấy ghép Implant, sau đó chờ khoảng từ 4-6 tháng sau làm răng trên implant. Chụp X – quang panorex và CT Scan theo dõi sau 6 tháng ghép xương và hàng năm sau gắn răng trên Implant.

Kết quả:

- Có 79 khối xương được ghép, 24 khối xương ghép theo chiều dọc và 55 khối xương ghép theo chiều ngang.
- 101 Implant được cấy vào khối xương ghép.
- Tất cả Implant đều thành công sau thời gian theo dõi 10.5 tháng.

Không có biến chứng xảy ra sau khi ghép xương và gắn răngtrên implant.

Trong số 12 bệnh nhân lấy xương từ vùng xương hông có 8 bệnh nhân đi bình thường sau 1 tuần phẫu thuật, 4 bệnh nhân còn hơi đau nhẹ khi đi trong tuần đầu sau phẫu thuật, và tất cả bệnh nhân đi lại bình thường không còn đau sau 4 tuần phẫu thuật lấy xương chậu.

Kết luận:

- Nghiên cứu này cho thấy xương chậu, xương cằm và xương vùng hậu hàm là vị trí cho xương ghép rất tốt trong những trường hợp ghép cho xương hàm trên bị tiêu trầm trọng do mất răng lâu ngày và không có biến chứng nghiêm trọng xảy ra.
- Các Implant cấy trên vùng xương này đều có thể thành công tốt.

Tài liệu tham khảo:

1, Barone and Covani - Maxillary Alveolar ridge reconstruction - J Oral Maxillofac Surg 65:2039 - 2406, 2007
2, Simon Storgard Jensen, DDS, Hendrik Terheyden, MD, DDS, PhD -  Bone Augmentation procedures in Localized defect in the alveolar ridge: Clinical results with different bone grafts and bone subsitude materials. The International Journal of Oral &Maxillofacial Implants, 24: 218 - 236, 200


Tiến sĩ, Bác sĩ. VÕ VĂN NHÂN

NHẬN GIẢI THƯỞNG IMPLANT NĂM 2011


Bên cạnh đó, vào năm 2011 tại Hội Nghị Implant lần đầu tiên được tổ chức tại Việt Nam của Hội Cấy Ghép Implant Tp Hồ Chí Minh. Tiến sĩ, Bác sĩ. Võ Văn Nhân cũng đạt được giải nhì poster với đề tài:

"Lấy xương mào chậu, nâng xoang ghép xương và phục hình bắt vít trên Implant"

Nội dung đề tài:


Trong đề tài này Tiến sĩ, Bác sĩ. Võ Văn Nhân đã trình bày 1 ca lâm sàng đặc biệt: Một bệnh nhân nam 56 tuổi bị mất răng trên 20 năm, đeo hàm giả tháo lắp nên xương hàm trên vùng tiền hàm tiêu hoàn toàn, tiêu xương sát đến nền mũi. Do vậy Tiến sĩ Võ Văn Nhân đã dùng kỹ nâng xoang hàm và ghép xương lấy từ vùng mào chậu (vùng hông) vào trong xoang hàm 2 bên trái và phải. 4 tháng sau khi xương ghép đã lành. Cấy 6 Implant có kết nối ngoài để làm phục hình bắt vít trên Implant và 2 mini implant để giữ phục hình tạm, sau khi cấy implant bệnh nhân có răng tạm tức thì. 
Đây là kỹ thuật khó và cực kỳ phức tạp kể cả lĩnh vực lâm sàng bao gồm phẫu thuật lấy xương chậu và nâng xoang cũng như kỹ thuật labo để tạo ra phục hình bắt vít trên Implant. Sau đây xin trình bày tiến trình điều trị của trường hợp này.

 
        GIẢI THƯỞNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC TP HỒ CHÍ MINH


Vào năm 2000, Tiến sĩ, Bác sĩ Võ Văn Nhân là người đầu tiên thực hiện công trình nghiên cứu khoa học ứng dụng công nghệ chế tạo răng sứ tự động, gọi là công nghệ CAD/CAM (computer aided design/ computer  aided manufacturing) thiết kế và chế tạo răng nhờ hỗ trợ của máy tính. Mà ngày nay được áp dụng rất phổ biến tại Việt Nam đó là công nghệ tạo ra sứ từ máy tính mà sản phẩm phổ biến đó là sứ Cercon.

Tên đề tài: "Nghiên cứu ứng dụng công ghệ CAM/CAM, máy Cerec 2, nghiên cứu invitro vi kẽ phục hồi xoang loại 2".

Đề tài được thực hiện tại Khoa Răng Hàm Mặt Trường Đại Học Y Dược Tp Hồ Chí Minh và đạt giải khuyến khích trong hội nghị khoa học tuổi trẻ các trường Y Dược toàn quốc vào năm 2000. Đề tài cũng được đăng trên Tập San của Hội Hình Thái Học Việt Nam, tập 13 - số 2/2013, Tổng hội Y Dược Học Việt Nam xuất bản.

Nội dung đề tài:
 
 
Tóm tắt

Hệ thống thiết kế và chế tạo phụ hồi nha khoa tự động có sự trở giúp của vi tirnh1 (CAD/CAM) có thể tạo ra phục hồi và gắn trong một lần hẹn, mà không cần phải lấy dấu, đổ mẫu cũng như những giai đoạn thực hiện trong Labo. Đây là một công nghệ tiến bộ ứng dụng trong nha khoa.

Phần trình bày nhằm giới thiệu hệ thống CAD/CAM trong nha khoa (hệ thống CEREC 2) và ứng dụng nghiên cứu in vitro kẽ phục hồi xoang loại II. Qua 20 inlay được thực hiện cho thấy phục hồi inlay tạo ra từ hệ thống CEREC 2 phù hợp với xoag đã sửa xoạn. Calibra (một loại composite lưỡng trùng hợp) tỏ ra thích hợp để gắn loại phục hồi này. 

 

 INTRODUCTION TO THE DENTAL CAD-CAM SYSTEM (CEREC 2) AND IN VITRO STUDY OF MICROLEAKAGE AROUND CLASS II RESTORATION

 

 

 Abstract

 
      Dental CAD-CAM system has the major advantage of fabricating and placing restorations in one appointment, without having to go through the conventional steps for prosthesis: impression taking, model casting, laboratoray work...
        It is considered as a one of the most important application of computer technologies in Dentistry.
       The author introduces about dental CAD-CAM system (Cerec 2 system) and its application in Class 2 restorations. In vitro microleakage was assessed on 20 Class II inlays. The results of this study show good application of the restorations and little microleakage.

ĐẶT VẤN ĐỀ

      Sự phát triển của máy tính và kỹ thuật điều khiển tự động là động lực cho cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật trong y khoa hiện đại nói chung và nha khoa hiện đại nói riêng. Công nghệ CAD/CAM giúp thay đổi nhanh chóng cách thức thực hành nha khoa. Đặc biệt nhờ phương pháp gia công tự động phục hồi nha khoa, việc điều trị có thể được hoàn tất chỉ trong một lần hẹn.
       Hệ thống CEREC 2 đẩu tiên có mặt tại Việt Nam là thiết bị được đầu tư cho trung tâm nha khoa phục hồi chất lượng cao, đặt tại Khoa Răng Hàm Mặt-Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh, thuộc trung tâm y tế chuyên sâu Thành phố Hồ Chí Minh (Bộ Y tế). Với mong muốn áp dụng kỹ thuật mới, tìm thêm những khả năng và mở rộng sự lựa chọn cho thầy thuốc và bệnh nhân nhằm đạt được những phục hồi có chất lượng cao đồng thời rút ngắn được thời gian điều trị, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài này nhằm các mục tiêu sau:
         1. Giới thiệu hệ thống CAD/CAM nha khoa (hệ thống CEREC 2) và ứng dụng để thử nghiệm tạo inlay, onlay.
           2. So sánh in vitro vi kẽ bờ nướu của inlay thử nghiệm được gắn bằng 2 loại vật lệu Calibra (composite lưỡng trùng hợp) và xi-măng GC Fuji Plus (xi-măng resin-modified glass ionomer hóa trùng hợp).

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

Giới thiệu một số hệ thống CAD/CAM nha khoa

      CAD: là bộ phận thu thập dữ liệu bằng dấu quang học hay cơ học thông qua việc ghi dấu trực tiếp của răng đã sửa soạn hay từ mô hình (inlay, mão...) được làm ra bởi bác sĩ hay kỹ thuật viên và thiết kế hình dáng phục hồi từ dữ liệu thu thập được.
      CAM: là bộ phận chế tạo phục hồi từ khối sứ hay kim loại chế tạo sẵn dựa vào hình dáng đã được thiết kế (từ dấu quang học hay cơ học) hay dựa vào mô hình được làm bởi bác sĩ hay kỹ thuật viên. Từ đó có thể tóm tắt các hệ thống CAD/CAM nha khoa trong bảng sau:

 
Bảng 1. Bảng tóm tắt các hệ thống CAD/CAM nha khoa

 
Hệ thống CEREC

      Hệ thống này được phát triển bởi Mormann và Brandestini từ 1980-1987. Sau đó, được tiếp nhận bởi công ty Siemens vào năm 1988, bắt đầu đưa vào thị trường là CEREC 1. CEREC là hệ thồng CAD/CAM nha khoa được biết nhiều nhất và được sử dụng rộng rãi nhất trên thế giới. Inlay CEREC đầu tiên được gắn cho bệnh nhân vào năm 1985.
CEREC 1
       CEREC 1 là nguyên gốc (1980-1987), CEREC 1 thế hệ thứ 2 (1988) và phần mềm COS 2.0 đã phát triển 1991, CEREC 1 thế hệ thứ 3 giới thiệu năm 1992.
CEREC 2
       Với kinh nghiệm được tích lũy trong những giai đoạn phát triển của CEREC 1, vào năm 1994, hệ thống CEREC được thiết kế trở lại hoàn hảo gọi là CEREC 2. Hệ thống này được cải tiến cả phần cứng lẫn phần mềm, có thể tạo ra nhiều loại phục hồi như inlay, onlay, veneer, mão cho răng trước và răng sau [29].
        Cấu trúc hệ thống CEREC 2 gồm 3 bộ phận chính:
       Thu thập dữ liệu (dùng camera), thiết kế phục hồi (phần mềm), chế tạo phục hồi (máy mài)
       Camera CEREC 2 được cải tiến có độ phóng đại 12 so với camera CEREC 1 có độ phóng đại 8. Do vậy hình ảnh ghi nhận được từ camera CEREC 2 chi tiết hơn hình ảnh ghi nhận được từ camera CEREC 1.
         Bộ phận gia công của CEREC 2 có thể mài dễ dàng trong 6 trục (bánh xe mài 2, bộ phận giữ khối sứ 1, mũi trụ 3) [7]. Mũi khoan trụ đường kính 1-2mm có thể mài những cấu trúc phức tạp như độ nhô của múi, những độ cao khác nhau của thành xoang và có thể điều chin43nh được bờ của mão và veneer [28]. Những dụng cụ mài được chạy bằng mô tơ điện nên tốc độ gần như không thay đổi mặc dù mài ở những độ sâu khác nhau. Thời gian mài đối với inlay, onlay và mão từ 5-30 phút phụ thuộc kiểu mài và kích thước.
         Phần mềm Cos 4.31 được cải tiến vào năm 1999. Tùy theo các tình huống lâm sàng, mặt nhai của inlay có thể được thiết kế theo nhiều cách khác nhau, đặc biệt hệ thống CEREC 2 có thể tạo ra phục hồi có mặt nhai chức năng.

Những vấn đề thường được nghiên cứu về hệ thống CEREC

     So sánh độ chính xác của các hệ thống [27, 29, 42, 44, 45, 46, 47], các loại tạo vật liệu phục hồi [14, 21, 22, 40,50], các hệ thống xi măng gắn [23, 37, 43, 48, 52]

Phương pháp đánh giá chất lượng phục hồi

Đánh giá lâm sàng
     Sử dụng phim X quang, kính hiển vi điện tử quét, tiêu chuẩn phục vụ sức khỏe cộng đồng Hoa Kỳ (sự sống của răng, chỉ số chảy máu nướu, chất lượng bờ phục hồi, màu sắc, hình dáng giải phẫu của răng và phục hồi) để đánh giá chất lượng phục hồi. Thêm vào đó, những biến chứng và than phiền của bệnh nhân cũng được ghi nhận [20, 35, 52]
Đánh giá vitro
      Chất lược phục hồi được đánh giá theo 2 phương pháp:
- Có xâm lấn mô răng: răng được cắt thành những lát mỏng hay được cắt qua trung tâm phục hồi bằng đĩa kim cương tốc độ chậm có nước lám mát, sau đó quan sát mặt tiếp giáp răng phục hồi dưới kính hiển vi [24, 46]
- Không xâm lấn mô răng: răng và phục hồi được giữ nguyên vẹn, đánh giá toàn bộ vùng bờ phục hồi từ vi ảnh hay đánh giá độ dày của xi-măng gắn từ những điểm đã chọn dọc theo bờ phục hồi bằn kính hiển vi điện tử quét [8, 21, 38].

VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Vật liệu nghiên cứu
     Thực hiện nghiên cứu trên 20 răng cối vĩnh viễn của người, bị nhổ không vì lí do sâu răng hay tổn thương mất chất khác. Răng còn nguyên vẹn, đã đóng chóp.
    Tạo xoang inlay MO và thực hiện inlay tương ứng bằng hệ thống CEREC 2. Chia ngẫu nhiên 2 nhóm, mỗi nhóm 19 răng: nhóm I gắn inlay với Calibra và nhóm II với Fuju Plus. Gắn inlay vào xoang theo hướng dẫn của nhà sản xuất.
Phương tiện nghiên cứu
   - Hệ thống CEREC 2
   - Vật liệu gắn/dán
   Nhóm I: Calibra (composite lưỡng trùng hợp) (Dentsply).
   Nhóm II: GC Fuji Plus (resin-modified glass ionomer) (GC).
Phương pháp nghiên cứu
     Thiết kế nghiên cứu: nghiên cứu In vitro theo thiết kế nhóm song song ngẫu nhiên.
Tạo xoang inlay: các răng được cố định trên mẫu hàm. Tạo xoang inlay MO theo tiêu chuẩn sau: sàn xoang có độ sâu 2-3mm, thành nướu và thành tủy phẳng, các thành khác song song và vuông góc với thành nướu. Thành trụ phẳng, không cong lồi theo hình dáng bên ngoài của răng. Không vát bờ men ở các thành.

Tạo phục hồi bằng hệ thống CEREC
* Thu thập dữ liệu răng đã sửa soạn bằng camera
   Xoang inlay được rửa sạch và thổi khô, quét keo và phủ một lớp mỏng bột CEREC lên toàn bộ xoang và răng bên cạnh. Ghi hình xoang inlay bằng camera: góc nhìn của camera trùng với hướng lắp inlay, xoang inlay trên màn hình đảm bảo 4 tiêu chuẩn sau: rõ nét, tương phản tốt, các thành được nhìn thấy rõ ràng, nằm ngay ngắn giữa màn hình.
* Thiết kế phục hồi
   Qui trì thiết kế inlay được thực hiện theo các lệnh được thông báo trên màn hình như sau: vẽ đường đáy, hệ thống tự động thiết kế đường bề mặt, đường tiếp xúc phía bên, vẽ đường trũng giữa, hệ thống tự động thiết kế đường gờ bên.
* Mài phục hồi
   Chọn khối sứ có kích thước thích hợp theo thông báo trên màn hình cho vào máy mài. Chọn lệnh mài, máy bắt đầu tiến trình mài.
   Răng đã phục hồi được mã hóa, qua chu trình nhiệt, cách ly, nhuộm phẩm màu, cắt và quan sát bởi hai quana sát viên độc lập. Thang điểm sử dụng để quan sát và đánh giá mức độ thâm nhập phẩm màu ở thành nướu của phục hồi là: 0, 1, 2, 3 (theo Ferrari, 1996) [15].
   Sử dụng phần mềm SPSS for Windows 9.01 để xử lý kết quả và so sánh mức độ thâm nhập phẩm màu giữa 2 nhóm.

KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN

Kết quả
     Nhóm I: Có 8 phục hồi không có thâm nhập phẩm màu, 2 phục hồi còn lại thâm nhập màu đến thành trụ (độ 3).
    Nhóm II: Có 6 phục hồi thâm nhập phẩm màu chưa vượt quá nửa chiều dài thành nướu (độ 1), 3 phục hồi thâm nhập phẩm màu quá nửa chiều thành nướu (độ 2) và 1 phục hồi thâm nhập phẩm màu đến thành trục (độ 3).
 

 
Phân tích thống kê
      Sử dụng phép kiểm định tổng xếp hạng Mann-Whitney cho thấy mức độ thâm nhập phẩm
màu vào thành nướu ở 2 nhóm khác nhau một cách có ý nghĩa thống kê (p=0,014). Như vậy, có thể kết luận rằng sự tiếp hợp bờ của các phục hồi ở nhóm I tốt hơn so với các phục hồi ở nhóm II, khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p=0,014).

Bàn luận
Về kỹ thuật CEREC

* Thuận lợi của hệ thống CEREC
    Nghiên cứu này sử dụng hệ thống CEREC 2 là một hệ thống được cải tiến từ năm 1994. Bên cạnh những cải tiến về phần cứng như camera, bộ phận mài; phần mềm Cos 4.31 cũng được cải tiến vào năm 1999. Hệ thống CEREC 2 cho phép tạo ra nhiều loại phục hồi chính xác như: inlay, onlay, mão răng trước, răng sau và veneer laminate, đặc biệt có thể chế tạo phục hồi có mặt nhai chức năng [27].
    Hệ thống CEREC 2 chế tạo phục hồi hoàn toàn tự động, số lần hẹn bệnh nhân và thời gian thực hiện phục hồi ít hơn so với hệ thống cổ điển [41]. Với kỹ thuật này, toàn bộ tiến trình từ sửa soạn xoang đến gắn phục hồi chỉ trong một lần hẹn, bỏ qua các giai đoạn như: lấy dấu, đổ mẫu, làm phục hồi tạm, cũng như các giai đoạn trong labo.
    Một thuận lợi khác của hệ thống CEREC lá có thể sử dụng gián tiếp.
* Những hạn chế và khó khăn của hệ thống CEREC
    Chi phí đầu tư ban đầu cao. Thời gian huấn luyện căng thẳng trong 2 ngày. Những nha sĩ tham gia trong khóa huấn luyện phải sử dụng được camera và đánh giá được từng bước thiết kế [30].
    Màu sắc của khối sứ bị hạn chế, tuy nhiên vấn đề này được khắc phục khá dễ dàng nhờ các bộ điểm màu của hệ thống sứ CEREC. Các bộ điểm màu cho phép tạo màu đặc trưng cho từng phục hồi trong khoảng thời gian 20 phút.

Về kết quả nghiên cứu
     Kết quả nghiên cứu cho thấy inlay CEREC gắn bằng Calibra có hiệu quả tốt trong việc hạn chế hình thành vi kẽ (80% phục hồi có chất lượng tốt - không có vi kẽ), inlay CEREC gắn bằng xi-măng GC Fuji Plus có vi kẽ ở những mức độ khác nhau: 60% độ 1, 30% độ 2 và 10% độ 3. Như vậy, có thể nhận thấy inlay CEREC có chất lượng đáng tin cậy, đặc biệt khi sử dụng vật liệu gắn/dán thích hợp, inlay CERC đạt độ tiếp hợp bờ rất cao và điều này có thể mang lại kết quả khả quan trên lâm sàng.
     Năm 1990, nghiên cứu Mormann cho rằng sử dụng composite quang trùng hợp (Heliomoler) để gắn inlay CEREC có kết quả tốt, gắn inlay CERC bằng composite lưỡng trùng hợp có kết quả tốt hơn so với các thế hệ composite trước đó, thành phần hóa trùng hợp dễ dàng cứng trong những vùng của xoang mà ánh sáng trùng hợp không thể đến được [30].
   Trong nghiên cứu 2001, so sánh độ bền gắn của các loại xi-măng: glass, ionomer, resin-modified glass ionomer, composite lưỡng trùng hợp trên phục hồi toàn sứ tạo ra từ hệ thống CAD/CAM, De Boer kết luậ glass ionomer không phù hợp để gắn phục hồi toàn sứ của hệ thống CAD/CAM, composite lưỡng trùng hợp có độ bền dán tốt nhất [12].
     Năm 1997, trong nghiên cứu so sánh độ bền dán của xi-măng glass ionomer và xi-măng resin-modified glass ionomer dùng gắn phục hồi sứ, Vallitu và Fors kết luận tỷ lệ bong dán cao ở nhóm sử dụng xi-măng glass ionomer, trong khi không có sự bong dán trong nhóm sử dụng xi-măng resin-modified glass ionomer gắn phục hối xử lý silane [51].
    Năm 1998, Zueling-Singer-R và Bryant-RW thực hiện nghiên cứu đánh giá sự phù hợp ở bờ của phục hồi inlay được tạo ra từ hệ thống CEREC trong 3 năm, sử dụng các vật liệu gắn: composite hạt độn nhỏ đồng nhất, composite lai hạt độn nhỏ, composite lai hạt độn thô, xi-măng glass ionomer. Nghiên cứu đã đưa ra kết luận bờ nhai của inlay CEREC có tính phù hợp cao và ổn định trong 3 năm. Nhựa composite hạt độn nhỏ có độ kháng mài mòn tốt hơn so với composite lai và glass ionomer [52].
    Nghiên cứu của Hoàng Đạo Bảo Trâm và Hoàng Tử Hùng (1999) so sánh vi kẽ bờ nướu của inlay SONICSYS gắn bằng composite lỏng quang trùng hợp và xi-măng glass ionomer lai hóa trùng hợp. Nghiên cứu đã kết luận gắn inlay sứ bằng composite tốt hơn có ý nghĩa so với xi-măng glass ionomer [2].
    Trong một nghiên cứu in vitro sử dụng chu trình nhiệt và áp lực cơ học, Reich và cộng sự nhận thấy có tăng vi kẽ tương ứng với tăng độ dày xi-măng gắn inlay composite, trong khi không tìm thấy mối tương quan này ở inlay CEREC. Tuy nhiên, trong một nghiên cứu đánh giá in vitro chất lượng bờ nướu của phục hồi CEREC xoang loại II (1995), sử dụng 2 tiêu chuẩn: độ nguyên vẹn của bề mặt phục hồi (được phân tích dưới kính hiển vi điện tử trước và sau chu trình nhiệt, áp lực cơ học) và độ bền dán của phục hồi (quan sát sự thâm nhập phẩm màu sau chu trình nhiệt và áp lực cơ học), Schmalz và cộng sự cho rằng chất lược bờ phục hồi ảnh hưởng bởi độ dày của vật liệu gắn. Với độ dày của vật liệu gắn 100 Mm, thất bại của việc gắn/dán thấp từ 3%-14%. Độ dày của vật liệu gắn lớn hơn 100 Mm thì sự bù đắp của composite gắn không hoàn chỉnh [38].
    Tóm lại, có thể thấy rằng yếu tố chính ảnh hưởng chất lượng dán bờ phục hồi là sự chọn lựa vật liệu gắn/dán, vật liệu tạo phục hồi độ khít sát giữa phục hồi và mô răng. Quan nghiên cứu trên nhiều loại vật liệu gắn khác nhau, các tác giả đều đi đến nhận định: composite hạt độn nhỏ lưỡng trùng hợp được sử dụng như là vật liệu gắn đối với phục hồi CEREC tỏ ra có hiệu quả hơn so với các vật liệu lai và xi-măng glass ionomer.

Ý nghĩa thực tiễn và ứng dụng lâm sàng
    Hệ thống CEREC 2 là hệ thống gia công tự động nhiều loại phục hồi nha khoa khác nhau. Nhiều nghiên cứu đánh giá labo và lâm sàng đã khẳng định phục hồi của hệ thống CEREC có kết quả tốt về thẩm mỹ và chức năng [20, 30, 21, 42]. Mặt khác hệ thống sứ dùng trong hệ thống CEREC, đặc biệt Vita Blocs Mark II có nhiều đặc tính tốt: dễ mài, dễ đánh bóng, thẩm mỹ, khung feldspar dễ xoi mòn giúp cho việc dán có hiệu quả, khả năng chịu nén cao, không bị mài mòn và không làm mòn răng đối diện [32].
    Hệ thống CEREC 2 lần đầu tiên có mặt tại Việt Nam. Qua tìm hiểu và ứng dụng hệ thống này trong gia công inlay, onlay chúng tôi nhận thấy đây là một kỹ thuật hiện đại nhưng không phức tạp. Do vậy, nếu được huấn luyện, các bác sĩ nha khoa có thể làm chủ được kỹ thuật, thực hiện được các phục hồi đạt chất lượng cao trong một lần hẹn bằng hệ thống này.
    Nghiên cứu sử dụng hai loại vật liệu gắn/dán khác nhau là Calibra (composite lưỡng trùng hợp) và xi-măng GC Fuji Plus (resin-modified glass ionomer hóa trùng hợp). Kết quả cho thấy sự tiếp hợp bờ phục hồi khá tốt ở cả hai nhóm, đặc biệt ở nhóm I với vật liệu gắn dán là Calibra, tỷ lệ phục hồi hoàn toàn không có vi kẽ đạt tới 80%.
    Qua nghiên cứu ứng dụng hệ thống CEREC 2, chúng tôi gia công thành công inlay, onlay, đồng thời xác minh được loại xi-măng gắn thích hợp. Do vậy, việc áp dụng hệ thống CEREC 2 để chế tạo nhanh các phục hồi nha khoa thẩm mỹ, giúp tiết kiệm thời gian và sức lao động là giải pháp khả thi và có ý nghĩa thiết thực.

KẾT LUẬN
   1. Các hệ thống CAD/CAm nha khoa ra đời đánh dấu một bước phát triển mới trong kỹ thuật nha khoa hiện đại.
   2. Hệ thống CEREC 2 được trang bị tại Khoa Răng Hàm Mặt Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh là hệ thống CAD/CAM nha khoa đầu tiên tại Việt Nam, đáp ứng được đòi hỏi về xu thế đổi mới của nha khoa hiện đại; trong đó nổi bật với vai trò của công nghệ thông tin. Các hệ thống này đòi hỏi người sử dụng có kiến thức và kỹ năng tin học cơ bản.
   3. Nghiên cứu in vitro vi kẽ phục hồi inlay xoang loại II cho thấy:

* Mức độ vi kẽ bờ nướu của inlay gắn bằng Calibra (composite lưỡng trùng hợp) ít hơn có ý nghĩa so với inlay gắn bằng GC Fuji Plus (xi-măng resin-modified glass ionomer hóa trùng hợp) (p<0,014).
* Việc lựa chọn vật liệu gắn/dán cần lưu ý đến vật liệu tạo phục hồi: các hệ thống composite lưỡng trùng hợp tỏ ra thích hợp hơn đối với phục hồi sử dụng hệ thống CAD/CAM. CEREC 2 qua nghiên cứu in vitro này.

Ý nghĩa thực hành:
    Ứng dụng hệ thống CEREC 2 trong việc tạo thành inlay, onlay trong nha khoa là một giải pháp khả thi, đáp ứng được yêu cầu thẩm mỹ và chức năng, đồng thời có thể hoàn tất được công việc điều trị trong một lần hẹn.

 GIỚI THIỆU MỘT SỐ TRƯỜNG HỢP LÂM SÀNG

 
Trường hợp 1.
 
R46 trước điều trị R46 sau điều trị
 

Trường hợp 2.

R25 trước điều trị R25 sau điều trị
 

Trường hợp 3.

R47 trước điều trị R47 sau điều trị
 

Công ty Implant
Nobel Biocare Implant | DIO Implant | Platon Implant | Straumann Implant | Ankylos Implant | Southern Implant | MIS Implant | Bicon Implant | BIOMET 3i | Zimmer Implant | Nha Khoa Tiền Giang | BioHorizons Implant | ACE Dental Implant System | Aseptico international | Astra Tech Inc. | Attachments International (Innova) | Bio-Lok International, Inc | BioComp Industries | Bioplant HTR | Brassler USA | Essential Dental Systems | Lifecore Biomedical | OSFIX-IMPLANT | Orthovita Implant | Osteo-Ti Implant System | Park Dental Research Corp. | Sendax Mini Dental Implant Center™ | The Tenax implant | Vancouver Implant Resources Inc. | Aseptico Implant Company | Astra Tech Implant | Attachments International, Inc | Dentatus Implant | Brasseler USA Implant Company | Titan Implant | The Acucera Co., Inc | Anthogyr Implant | Atlantis Components, Inc. | Basic Dental Implants LLC | Bosker Implant System | BTLock Srl | Camlog Biotechnologies AG | Dentaurum J.P. Winkelstroeter KG | DiamoDent™ | Dyna Dental Engineering BV | Hi Tec Implants | Impladent Ltd. | IMTEC implant | Neo Dental Implant System | Northern Implants LLC | OCO Biomedical, Inc. | Osseointegrated Implant System | Osteo Implant Corporation | Osteocare Dental Implant System | Park Dental Research Corp | Preat Corporation | Rhein'83 USA | RT Medical Research&Technologies | Sargon Dental Implants | Simpler Implants Inc. | Sterngold Dental, LLC | Timplant Dental Implant Systems | Zest Anchors, Inc. | Vident | Thommen Medical |
NHA KHOA NHÂN TÂM - Cấy ghép Implant & nha khoa thẩm mỹ
Add: 807 Đường 3/2, P.7, Q.10, TP.Hồ Chí Minh, Việt Nam , Tel: (08) 39570229 - (08) 39575569 Mobile - 0903.632701 - 0938.344970
Email - drnhan@hotmail.com - drnhan1@gmail.com www.nhakhoanhantam.com © Bản quyền 2008 thuộc NHA KHOA NHÂN TÂM 
Ghi rõ nguồn "implantvietnam.info" khi phát hành lại thông tin từ website này. Nha khoa Nhân Tâm không có chi nhánh