Lượt truy cập
2929285

Cấy ghép Implant sau nâng xoang hở có ghép xương

Cấy ghép Implant sau nâng xoang hở

 

có ghép xương

(Tạp chí y học Việt Nam, số 1, tr.98-101.)

                                                                                                         Th.s B.s Võ Văn Nhân

TÓM TẮT

Nâng xoang hở có ghép xươnglà kỹ thuật làm tăng chiều dày xương hàm trên trong kỹ thuật Implant nha khoa. Có 2 phương pháp là kỹ thuật 1 thì: nâng xoang và đặt implant cùng lúc và kỹ thuật 2 thì: nâng xoang,ghép xương sau 3 tháng đặt Implant

Từ năm 2007-2013, chúng tôi đã tiến hành phẫu thuật nâng xoang hởcho 61 bệnh nhân : 39 nam và 22 nữ, độ tuổi từ 18 đến 61 tuổi. Các bệnh nhân này có chiều cao xương còn lại dưới 8mm. Trong đó có 67xoang được phẫu thuật nâng đặt Implant 1 thì và 19xoang được phẫu thuật nâng và đặt Implant 2 thì. Bệnh nhân được theo dõi trên 2 năm. Kết quả là 120 implant được đặt, trong đó tốt117implant(97.5%), thất bại3 implant(2.5%). Không có trường hợp thủng màng xoang. Nhiễm trùng 1 ca chiếm 1.16%, hở vạt 1 ca chiếm 1.16%.

Summary: From 2007 to 2013, we carried out an external sinus lift for 61 patients (39 male and 22 female) ranging in the age from 18 to 61. These patients had residual bone height from 1mm to <8mm.  There were 67 sinuses were lifted in one-stage procedure and 19 sinuses were lifted in two-stage procedure. Follow-up time is over 2 year. Result: Of 120 implant were placed, 117 implant were survival (97.5%), 3 implant were failed (2.5%). No membrane preforatetion. Infection (1.16 %), dehiscenced flap (1.16 %) were also recorded.

Keywords: external sinus lift, one-stage and two-stage implant placement.

ĐẶT VẤN ĐỀ

Implant nha khoa là một kỹ thuật mang lại kết quả ăn nhai, thẩm mỹ và phát âm tốt. Chính vì vậy, kỹ thuật này ngày càng phát triển. Tuy nhiên xương tại nơi cấy ghép phải đủ chiều dày (>10 mm). Có nhiều phương pháp làm tăng chiều dày xương nhưng phương pháp nâng xoang hở là phương pháp có hiệu quả và dễ kiểm soát nhất.

Hiện nay nhờ sự cải thiện thiết kế implant nhằm tạo ra sự nén xương giữa mào xương ổ và cổ implant để đạt sự ổn định ban đầunên cho phép đặt implant cùng lúc với nâng xoang ngay cả khi chiều cao xương còn lại từ mào xương ổ đến sàng xoang là 1-2mm.[9]Tuy nhiên hiện nay chưa có nhiều nghiên cứu về lĩnh vực này, do vậy chúng tôi thực hiện nghiên cứu nâng xoang hở một thì và hai thì nhằm mục đích:

-          Đánh giá tỉ lệ thành công khi đặt implant với các nhóm chiều cao xương hàm ban đầu: 1-2mm; 3-5mm và 5-8mm.

-          Đánh giá các biến chứng: thủng màng xoang, nhiễm trùng và hở vạt.

I.       ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1.      Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành trên 61 bệnh nhân, trong đó gồm 39 nam và 22 nữ, độ tuổi từ 18 đến 61 tuổi.

a.      Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân

- Chiều cao xương còn lại 1-8mm

- Tình trạng nha chu: không có tình trạng viêm nha chu cấp tính.

- Sức khỏe tổng quát tốt, các bệnh lý y khoa được kiểm soát tốt.Thần kinh ổn định.

b.      Tiêu chuẩn loại trừ

- Dị dạng xoang hàm. Niêm mạc xoang giảm chức năng hay sẹo do chấn thương, phẫu thuật.

- Có bệnh lý xoang hàm (viêm xoang mãn hay cấp tính, nang, bướu)

- Sau xạ trị liều trên 45 Gy. Điều trị miễn dịch. Hút thuốc trên 20 điếu mỗi ngày

 

2. Phương pháp nghiên cứu:

2.1.Tiến cứu, mô tả cắt ngang

2.2.Mô tả kỹ thuật:

2.2.1 Trang thiết bị, vật liệu:

  - Máy ghế chữa răng, máy phẫu thuật cắt xương siêu âm, bộ dụng cụ nâng xoang hở.

           - Xương tự thân (xương chậu hoặc xương trong miệng) kết hợp với xương đồng loại và vật liệu tổng hợp HA & β tricanxium phosphate.

          - Màng collagen tự tiêu Salvin oralmem®absorbable collagen membrance.

          - Implant: Implan của hãng DIO Hàn Quốc (bề mặt RBM).

                           Chiều dài: 10-14mm, đường kính 3.5-4 mm

2.2.1 Kỹ thuật:

- Mở cửa sổ xoanghình oval ở thành bên của xoang trong trường hợp cần nâng xoang 4 răng từ răng cối nhỏ thứ nhất đến răng 7, mở hai cửa sổ, một ở răng cối nhỏ thứ nhất và một ở răng cối lớn thứ nhất, chừa thành xương ở giữa hai cửa sổ xoang để tăng sự cứng chắc của thành bên và khả năng trưởng thành của xương ghép.

Sử dụng mũi khoan tròn Tungsten & tay khoan tốc độ chậm, kết hợp với máy cắt xương siêu âm để mở cửa sổ xoang nhằm tăng tốc độ làm việc và giảm nguy cơ thủng màng, sau đó dùng dụng cụ cầm tay để nâng màng xoang (dụng cụ luôn luôn tiếp xúc với thành xoang khi nâng màng), mở cửa sổ sao cho thành dưới cửa sổ cách đáy xoang 3mm để dễ quan sát trong xoang và giữ được xương ghép. Nhồi bột xương nâng xoang theo yêu cầu kỹ thuật.

Sửa soạn lỗ đặt implant nhỏ hơn đường kính implant và sử dụng implant dạng thuôncó ren, nhiều vi ren ở vùng cổ implant, implant bề mặt nhám để tăng áp lực vùng cổ tạo ổn định ban đầu.Đặt implant bằng dụng cụ cầm tay để kiểm soát hướng và cảm giác độ ổn định ban đầu.Vị trí implant được đánh dấu bằng máng hướng dẫn phẫuthuật. Đạt màng tiêu collagen. Khâu tái tạo vạt

2.3 Tiêu chí đánh giá:

- Đo chiều cao xương hàm: X quang Cone beam

- Xác định độ chắc chắn giữa Implant và xương hàm: Dụng cụ đặt lực

 

II.         KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Từ tháng 12/2007 đến tháng 6/2013có 61 bệnh nhân (39 nam và22nữ) được nâng xoang và đặt implant.

Tổng số 120 implant của hãng DIO đã được đặt. Các implant đều có ổn định ban đầu tùy theo chiều cao xương hàm ban đầu nhưng đều đạt từ 20N/cm trở lên. Số implant thành công lâm sàng117implant chiếm 97.5%, 3implant thất bạichiếm 2.5%. (Bảng 1)

Khi chiều cao xương còn lại 1-2mm, có 39 implant được đặt, có 37 implant thành công (94.9%) ,  2 implant thất bại (5.1%).  Khi chiều cao xương còn lại 3-5mm, có 56 implant được đặt, có 55 implant thành công (98.2%), 1 implant thất bại ( 1.8%) .Khi chiều cao xương còn lại trên 5mm, có 25 implant được đặt, thành công 100%, không có trường hợp thất bại (Bảng 1). Theo phép kiểm Fisher cho thấy tỷ lệ thành công theo chiều cao xương còn lại có sự khác biệt có ý nghĩa thông kê. (p<0.05).

 

 

Chiều cao xương

 

Số xoang được

 nâng hở

Số implant được đặt

 Tổng số implant

được đặt

(DIO)

Tỷ lệ Implant thành công

Tỷ lệ  Implant

thất bại

1 thì

2 thì

1 thì

2 thì

1-2mm

13

14

18

21

39

37/39

(94.9%)

2

(5.1%)

3-5mm

35

5

51

5

56

55/56

(98.2%)

1

(1.8%)

>5 -<8mm

19

0

25

0

25

25/25

(100%)

0%

Tổng

67

(77.9%)

19

(22.1%)

94

(78.3%)

26

(21.6%)

120

117/120 (97,5%)

3/120

(2.5%)

Bảng 1: Tỷ lệ implant thành công và thất bại theo chiều cao xương

 

Trong đó có 67 trường hợp nâng xoang 1 thì, có 94 implant được đặt, 92 implant thành công (97.9%), 2 implant thất bại (2.1%). 19 trường hợp nâng xoang 2 thì, có 26 implant được đặt, 25 implant thành công (96.1%), 1 implant thất bại (3.9%)(Bảng 2).Phép kiểm Fisher cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa 2 kỹ thuật. (p<0.05).

 

Bảng 2: Tỷ lệ implant thành công và thất bại theoloại nâng xoang

Nâng xoang hở

Số xoang được

nâng hở

Số implant

được đặt

Số implant thành công

Số implant   thất bại

1 thì

67

(77.9%)

94

(78.3%)

92

(97.9%)

2

(2.1%)

2 thì

19

(22.1%)

26

(21.6%)

25

(96.1%)

1

(3.9%)

Tổng

86

120

117

(97.5%)

3

(2.5%)

Thời gian theo dõi trung bình: 24,7 tháng (lâu nhất:75 tháng, ngắn nhất:4 tháng)

Có 3 trường hợp thất bại, gồm 3 implant được sử dụng:

1 trường hợp thất bại trước khi gắn phục hình với chiều cao xương còn lại 4mm, thất bại 8 tháng sau khi nâng xoang đặt implant.

2 trường hợp thất bạisau phục hình hoàn tất. Trong đó có một trường hợp với chiều cao xương còn lại 3mm, thất bại sau 27 tháng tải lực phục hình, trường hợp còn lại với chiều cao xương còn lại 1.3mm thất bại sau 8 tháng tải lực phục hình.

Biến chứng:

Nhiễm trùng: có 1 trường hợp chiếm 1.16%, nhiễm trùng 10 ngày sau phẫu thuật và dẫn đến thất bại implant.Hở vạt có 1 trường hợp chiếm 1.16%.

III.   BÀN LUẬN

Ghép xoang đã trở thành tiến trình điều trị có tiên lượng tốt cho đặt implant nha khoa trong vùng phía sau xương hàm trên tiêu xương trầm trọng. Theo Hội nghị đồng thuận về các vấn đề nâng xoang được tổ chức tại Đức vào năm 1996, khi chiều cao xương còn lại từ 1-3mm nâng xoang 2 thì, khi chiều cao xương còn lại từ 4-6mm chỉ định nâng xoang 1 thì nhằm đảm bảo implant đạt ổn định ban đầu, khi chiều cao xương còn lại từ 7mm nâng xoang kín.[2] Tuy nhiên 10 năm sau, vào năm  2006,Peleg và cộng sự xuất bản một nghiên cứu nâng xoang theo dõi trong 9 năm cho 731 bệnh nhân với 2,132 implant được đặtđạt 97.9% implant thành công. Trong đó chia làm 3 nhóm: nhóm 1 có chiều cao xương còn lại 1-2mm có tỷ lệ thành công 95.9% (thất bại 4,1%); nhóm 2 từ 3-5mm có tỷ lệ thành công là 98.5% ( thất bại 1.5%) và nhóm 3 có chiều cao xương còn lại trên 5mm với tỷ lệ thành công là 98.4% (thất bại 1.6%). [9] So với nghiên cứu của Peleg và cộng sự, nghiên cứu này đạt tỷ lệ thành công 97.5% (tương đương với kết quả của Peleg). Trong đó, ở nhóm 1-2mm,tỷ lệ thành công đạt 94,4%, implant thất bại chiếm 5.1%; ở nhóm 3-5mm,tỷ lệ thành công đạt 98,2%, implant thất bại chiếm 1,8%;ở nhóm trên 5mm đến dưới 8mm đạt tỷ lệ thành công đạt 100%, không có implant thất bại. Nghiên cứu nàycho thấy tỷ lệimplant thành công ở nhóm 3 (100%) cao hơn trong nghiên cứu của Peleg nhưng thời gian theo dõi của nghiên cứu này ngắn hơn. Tỷ lệ thất bại khác nhau đối với 3 chiều cao xương còn lại khác nhau là 5.1%, 1.8% và 0%  đối với implant đặt trong vùng 1->2mm, 3-5mm và trên 5mm là có ý nghĩa thống kê (P<.0.05). Mặc dù tỷ lệ thất bại cao trong nhóm 1->2mm xương so với 2 nhóm còn lại nhưng tỷ lệ này là rất thấp đối với tình trạng lâm sàng rất phức tạp này.

     Khi xương còn lại 1-2mm là một thách thức để đặt implant đạt ổn định ban đầu cùng lúc với việc nâng xoang và ghép xoang. Trong trường hợp này, hầu như kỹ thuật nâng xoang hở 1 thì chỉ có thể thực hiện được khi xương còn lại có chất lượng tốt. Thực tế trong nghiên cứu của chúng tôi cho thấy khi xương còn lại 1-2mm chỉ có 13 trường hợp được điều trị theo phương pháp nâng xoang hở 1 thì và 14 trường hợp còn lại phải thực hiện theo phương pháp 2 thì.

Tỷ lệ thành công của nghiên cứu này (97.5%)đạt được là do tạo cửa sổ xoang hợp lí,thành dưới của xoang cách đáy xoang 3mm cho phép giữđược vật liệu ghép, dễ quan sát khi nâng màng xoang và cho vật liệu vào xoang. Kết hợp dụng cụ quay và dụng cụ siêu âm để rút ngắn thời gian mở của sổ, đồng thời mở cửa sổ hình oval nên đảm bảo sự an toàn hạn chế thủng màng xoang, kết hợp với việc mở 2 cửa sổ khi cần nâng xoang lớn và rộng điều này đảm bảo sự chắc chắn ở thành bên của xoang, giữ lại được nhiều vách xương thật giúp lành thương nhanh theo cơ chế dẫn tạo xương. Vật liệu ghép có xương tựthân đặt tiếp xúc với bề mặt implant, xương tự thân được xem là tiêu chuẩn vàng cho các vật liệu ghép, nén xương cẩn thận, đặt implant dài, chọn lựa implant thuôn nhiều vi ren ở vùng cổ (dễ đạt độ ổn định ban đầu), implant có bề mặt RBM là bề mặt nhám do phủ hydroxy apatic tự tiêu cho kết quả tốt hơn bề mặt láng.[4-5]Dùng màng che phủ vật liệu ghépngăn cản sự cạnh tranh của mô mềm nên tạo môi trường thuận lợi cho xương phát triển.

Quá trình nâng xoang, ghép xương có thể đưa vi khuẩn mới vào xoang và mũi nên yêu cầu dùng kháng sinh dự phòng để ngừa nhiễm trùng [1], kháng sinh liều cao trước phẫu thuật và vệ sinh răng miệng tốt không những hạn chế nhiễm trùng sau phẫu thuật mà còn giảm đáng kể tỷ lệ thất bại implant ở phẫu thuật thì 2. [8]đặc biệt đối với bệnh nhân nâng xoang có hút thuốc [3,6,7]

Có 1 trường hợp thất bại implant trước khi tải lực, một trường hợp do bệnh nhân có tình trạng bệnh nhân nữ trong giai đoạn mãn kinh có loãng xương trầm trọng nên ảnh hưởng đến quá trình tích hợp xương. Có 2 trường hợp thất bại sau tải lực phục hình, một trường hợp dùng hàm phủ trên implant các implant đứng riêng lẻ ở vùng răng sau có thể do quá tải lực. 1 trường hợp nhiểm trùng 10 ngày sau phẫu thuật ở bệnh nhân ăn trầu, hút thuốc nhưng bệnh nhân này được xử lí bằng cách mở vạt bơm rửa lấy một phần vật liệu và dùng kháng sinh sau đó implant vẫn lành thương tốt. Chỉ có một trường hợp hở vạt chiếm 1.16%.Không có trường hợp thủng màng.Đây là tỉ lệ rất thấp có lẽ do sử dụng phương pháp nâng xoang xoang hợp lí. So với tỉ lệ thủng màng của các nghiên cứu khác từ 0-58%.[10]

KẾT LUẬN

Kết quả thành công implant khi chiều cao xương còn lại từ 5-8mm la 100%, khi chiều cao xương còn lại từ 3-5mm là 98.2% và chiều cao xương còn lại từ 1-2mm là 94.9%. Sự khác biệt giữa 3 nhóm chiều cao xương còn lại này có ý nghĩa thống kê (p<0.05).

Tỷ lệ biến chứng, nhiễm trùng và hở vạt thấp (1.16%), không có biến chứng thủng màng.

CA LÂM SÀNG

 Bệnh nhân nam 54 tuổi, mất răng, một số răng lung lay và đau khi ăn nhai. Yêu cầu của bệnh nhân làm lại răng giả cố định kể cả điều trị implant. Tình trạng tổng quát: bệnh nhân có sức khỏe tổng quát tốt không có bệnh huyết áp tiểu đường. Thói quen: hút thuốc trên 20 năm. Dưới 10 điếu một ngày nhưng đã ngưng hút thuốc cách đây 5 năm.





Khám ngoài miệng: bệnh nhân có đường cười trung bình, khuôn mặt và viền môi cân đối.

Khám trong miệng và x quang (hình 2 và 3)

Hàm trên mất răng 18, 17, 25, 26, 28; răng 17 tụt nướu lộ vùng chẽ chân răng, răng 14,15: túi sâu 7mm, lung lay độ 3; răng 12, 11, 21, 22 tụt nướu. Hàm dưới mất răng 36, 47,48 răng 37 lung lay độ 3, túi phía gần sâu 6mm.
 

Hình ảnh trên phim CT Cone Beam (hình 4)

Răng 17 tiêu xương mặt ngoài, mặt trong và vùng chẽ, chóp chân răng sát sàng xoang hàm

Răng 14, 15 tiêu xương quanh chân răng, chop chân răng sát sàn xoang hàm

Răng 24 tiêu xương quanh chân răng và mặt ngoài, chop chân răng sát sàn xoang hàm)

 

Răng 27 tiêu xương mặt ngoài, mặt trong, chop chân răng sát sàn xoang hàm 


Chẩn đoán: Mất răng và viêm nha chu

Kế hoạch điều trị: (hình 5)

Nhổ răng 17,14,15,24,27,38 nạo sạch mô hạt viêm.

Điều trị nha chu viêm: cạo vôi răng nạo túi nha chu, kháng sinh, kháng viêm và súc miệng chlohexidine 0.12% trong 7 ngày. Chờ 6 tuần sau, nâng xoang, ghép xương và cấy ghép implant 1 thì tại các vị trí R 16,15,14; R 24,26,27; đồng thời cũng đặt implant ở R37

Khảo sát CT Cone beam 6 tuần sau nhổ răng

Thách thức: chiều cao xương còn lại cách sàng xoang từ 1 đến 3mm, rất khó khăn để đặt implant đạt ổn định ban đầu.

Giải pháp: Chọn implant thuôn, có xử lí bề mặt nhám, nhiều ren vùng cổ implant,(hình 6). Lổ khoan xương nhỏ hơn đường kính implant, đặt implant tựa hay gài vào các thành xương còn lại, sử dụng cụ cầm tay để đặt implant giúp dễ điều chỉnh hướng và cảm nhận độ ổn định ban đầu.

Kĩ thuật: Mở 2 cửa sổ hình oval bằng dụng cụ quay và siêu âm tạo cửa sổ (hình 7), nâng màng xoang (hình 8), đặt implant, vật liệu ghép và màng (hình 9).

Hình 6. Hình dáng implant


Kết  quả:

Khảo sát CT Cone beam qua  9 tháng sau phẫu thuật (Hình 10)

Hình ảnh lành thương mô mềm 9 tháng sau phẫu thuật (Hình 11)

Hình ảnh phẫu thuật thì 2 lộ implant 9 tháng sau phẫu thuật (Hình 12,13) có sự tích hợp xương tốt.

Hình ảnh phẫu thuật đặt ốc lành thương 9 tháng sau phẫu thuật (Hình 14)

Hình ảnh 18 tháng sau khi đặt phục hình sau cùng (Hình 15, 16)

Hình ảnh Panorama 18 tháng sau khi đặt phục hình sau cùng (Hình 17)


TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.      Dent CD, Olson JW, Farish SE, et al. The influence of preoperative antibiotics on success of endosseous implants up to and including stage II surgery: A study of 2,641 implants. J Oral Maxillofac Surg 1997; 55(suppl 5):19-24.

2.      Jensen OT, Schulman L (eds). Academy of osseointegrationsinus graft consensus conference. Int J Oral Maxillofac Implants 1998;13

3.      Kan JY, Rungcharassaeng K, Kim J, Lozada JL, Goodacre CJ. Factors afecting the survival of implants placed in grafted maxillary sinuses:A clinical report. J Prosthet Dent 2002;87:485-489.

4.      Kasemo B, Lausmaa J. Metal selection and surface charecteristics. In:Branemark P-I, Zarb GA, Albrektsson T (eds). Tissue-Integrated Prostheses: Osseointegration in Clinical Dentistry. Chicago:Quintessence, 1985:99-116.

5.      Kumar A, Jaffin RA, Berman C. The effect of smoking on achieving osseointegration of surface-modified implants:A clinical report. Int J Oral Maxillofac Implants 2002;17:816-819.

6.      Lindquist LW, Carlsson GE, Jemt T. Association between marginal bone loss around oseointegrated mandibular implants and smoking habits:A 10 year- follow-up study. J Dent Res 1997; 76:1667-1674.

7.      Lindquist LW, Carlsson GE, Jemt T.A prospective 15-year-follow-up study of mandibular fixed prostheses supported by oseointegrated implants. Clinical results and marginal bone loss. Clin Oral Implants Res 1996;7:329-336.

8.      Peleg M, Mazor Z, Garg AK. Augmentation grafting of the maxillary sinus and simultaneous implant placement in patients with 3 to 5 mm of residual alveolar bone height. Int J Oral Maxillofac Implants 1999,14;549-556.

9.      Peleg M, Mazor Z, Garg AK. Predictability of simultaneous implant placement in the severely atrophic posterior maxilla: A 9-year longitudial experience study of 2,132 implants placed into 731 human sinus grafts. Int J Oral Maxillofac Implants 2006;21:94-102.

10. Schwartz-Arad D, Herzberg R, Dolev E. The prevalence of surgical complications of the sinus graft procedure and their impact on implant survival. J Periodontol. 2004;75:511–516.


Công ty Implant
Nobel Biocare Implant | DIO Implant | Platon Implant | Straumann Implant | Ankylos Implant | Southern Implant | MIS Implant | Bicon Implant | BIOMET 3i | Zimmer Implant | Nha Khoa Tiền Giang | BioHorizons Implant | ACE Dental Implant System | Aseptico international | Astra Tech Inc. | Attachments International (Innova) | Bio-Lok International, Inc | BioComp Industries | Bioplant HTR | Brassler USA | Essential Dental Systems | Lifecore Biomedical | OSFIX-IMPLANT | Orthovita Implant | Osteo-Ti Implant System | Park Dental Research Corp. | Sendax Mini Dental Implant Center™ | The Tenax implant | Vancouver Implant Resources Inc. | Aseptico Implant Company | Astra Tech Implant | Attachments International, Inc | Dentatus Implant | Brasseler USA Implant Company | Titan Implant | The Acucera Co., Inc | Anthogyr Implant | Atlantis Components, Inc. | Basic Dental Implants LLC | Bosker Implant System | BTLock Srl | Camlog Biotechnologies AG | Dentaurum J.P. Winkelstroeter KG | DiamoDent™ | Dyna Dental Engineering BV | Hi Tec Implants | Impladent Ltd. | IMTEC implant | Neo Dental Implant System | Northern Implants LLC | OCO Biomedical, Inc. | Osseointegrated Implant System | Osteo Implant Corporation | Osteocare Dental Implant System | Park Dental Research Corp | Preat Corporation | Rhein'83 USA | RT Medical Research&Technologies | Sargon Dental Implants | Simpler Implants Inc. | Sterngold Dental, LLC | Timplant Dental Implant Systems | Zest Anchors, Inc. | Vident | Thommen Medical |
NHA KHOA NHÂN TÂM - Cấy ghép Implant & nha khoa thẩm mỹ
Add: 807 Đường 3/2, P.7, Q.10, TP.Hồ Chí Minh, Việt Nam , Tel: (028) 39570229 - (028) 39575569 Mobile - 0903.632701 - 0938.344970
Email - drnhan@hotmail.com - drnhan1@gmail.com www.nhakhoanhantam.com © Bản quyền 2008 thuộc NHA KHOA NHÂN TÂM 
Ghi rõ nguồn "implantvietnam.info" khi phát hành lại thông tin từ website này. Nha khoa Nhân Tâm không có chi nhánh